Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019

YÊU ĐỂ TIN VÀ LÀM CHỨNG

 (Ga 20, 11-18)
Chuyện kể rằng: sau khi Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận bị bắt một thời gian, người ta không còn cách nào liên lạc được với ngài. Ngài đã đi vào cõi biệt vô âm tín. Vì thế, giáo dân nghĩ là ngài đã chết trong tù, nên nhiều người có lòng quý trọng, yêu mến và cảm phục ngài bởi nhân đức anh hùng, nhất là lòng đạo đức, nhân từ, hiền hậu và yêu thương, vì thế họ đã diễn tả lòng biết ơn và kính trọng của họ với ngài bằng cách: cầu nguyện và xin lễ cầu hồn cho ngài. Tuy nhiên, một thời gian sau, ngài được trả tự do và xuất hiện trước công chúng... Tin vui mừng này loan đi cách nhanh chóng, vì thế, chẳng mấy chốc, nhiều người đã biết được tin và họ không ngừng tạ ơn Chúa, trong số những người vui mừng nhất, có lẽ phải kể đến, đó chính là thân mẫu Đức Hồng Y.
Tin Mừng hôm nay trình thuật cho chúng ta thấy cảnh tang tóc, sầu thương, u buồn, tuyệt vọng đang bao phủ tâm trạng Maria Madalena! Bà buồn vì tình cảm mà bà dành cho Đấng đã yêu thương và cứu thoát bà khỏi chết, thoát ra khỏi con đường tội lỗi, ban những lời dạy tuyệt vời..., hơn nữa, sự hy vọng của bà vào Đấng đã chữa lành mọi bệnh tật, làm cho kẻ chết sống lại, hóa bánh ra nhiều... sẽ đem lại cho bà một chỗ dựa vững chắc... Nhưng sau những trận đòn chí mạng, những mệt nhọc của chặng đường lên Gôngôtha, và cuối cùng là cái chết trên thập giá và được an táng trong mộ như bao nhiêu người khác... đã làm cho bà thất vọng. Sự tuyệt vọng ấy đi đến đỉnh điểm là ngay cả xác chết rồi mà cũng còn bị mất... Như thế, đặt mình vào tâm trạng của bà, chúng ta mới thấy được sự xót xa buồn tủi là dường nào!
Tuy nhiên, giữa cảnh sầu thương tang tóc ấy, đã bừng lên một niềm vui vô đối, không gì có thể sánh bằng, đó là Tin Mừng Phục Sinh. Phần thưởng của Đức Giêsu dành cho bà chính là cho bà thấy Ngài và Ngài đã gọi tên bà một cách thân mật, ngọt ngào: “Maria”.
Gọi tên là dấu chỉ thân mật của Thầy và trò, của cha mẹ với con cái, của người mục tử với đoàn chiên. Gọi tên là dấu nhận và biết cách cụ thể, là bảo vệ chở che.
Vì thế, khi vừa nghe thấy Thầy gọi tên mình, bà đã vội vàng thưa: “Rapbuni” (nghĩa là: lạy Thầy).
Nếu việc gọi tên là dấu chỉ, cách thức cho biết người được gọi thuộc về người gọi và người gọi phải có bổn phận với người mà họ đã gọi, thì khi người được gọi nghe thấy và thưa lại chính là sự xác minh cách cụ thể mối tương quan trên.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng ta về Bí tích Thánh Tẩy đã lãnh nhận. Khi lãnh nhận Bí tích này, chúng ta được đổi tên thành Kitô hữu và được gọi vào hàng con cái của Thiên Chúa và được thông phần vào sự sống của Đức Kitô phục sinh.
Đứng trước hồng ân lớn lao đó, chúng ta không ngừng tạ ơn Chúa và lo sống xứng đáng bổn phận của mình. Nhất là trở nên chứng nhân của Chúa phục sinh trong môi trường và xã hội hôm nay.
Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin ban cho chúng con biết nhận ra tình thương của Chúa khi Chúa phục sinh chúng con từ đau khổ, tội lỗi thành bình an, hạnh phúc và niềm vui qua Bí tích Rửa Tội khi mỗi người chúng con được mang một tên mới và thuộc về Chúa. Amen.
Giuse Vinhsơn Ngọc Biển SSP
Ảnh: Internet
Thứ Ba Tuần Bát Nhật Phục Sinh Năm C
PHÚC ÂM: Ga 20, 11-18
"Tôi đã trông thấy và Người đã phán với tôi những điều ấy".
Khi ấy, bà Maria đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc. Nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: "Tại sao bà khóc?" Bà trả lời: "Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?" Vừa nói xong, bà quay mặt lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó, nhưng bà chưa biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: "Bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai?" Tưởng là người giữ vườn, Maria thưa: "Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người". Chúa Giêsu gọi: "Maria". Quay mặt lại, bà thưa Người: "Rabboni!" (nghĩa là "Lạy Thầy!"). Chúa Giêsu bảo bà: "Đừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy đi báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con".
Mađalêna đi báo tin cho các môn đệ rằng: "Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy".
Đó là lời Chúa.

TẠI SAO CHÚA PHỤC SINH HIỆN RA VỚI CÁC BÀ TRƯỚC CÁC TÔNG ĐỒ?

Tại sao khi sống lại, Chúa Kitô lại hiện ra cho các bà trước khi hiện ra cho các tông đồ?
Có một lần đức Giáo hoàng Gioan XXIII, trong một buổi tiếp kiến dành cho một nhóm phụ nữ, đã đặt lên câu hỏi tương tự cho các bà. Nhưng mấy bà chưa kịp suy nghĩ thì Ngài đã trả lời luôn: tại vì mấy bà bép xép hay nói. Nếu mà Chúa hiện ra với mấy ông trước, thì mấy ông chỉ gật gù hay cùng lắm là rủ nhau vào quán nhậu một chầu tán gẫu là hết; còn hiện ra với mấy bà thì chẳng mấy chốc mà tin đồn vang tới mọi hang cùng ngõ hẻm. Chúa rành tâm lý lắm! Dĩ nhiên là các bà nghe như vậy thì đắc chí cười ồ lên. Nhưng đó là chuyện xảy ra cách đây hơn 30 năm rồi, vào thời mà phong trào phụ nữ còn yếu. Ngày nay, nếu Giáo hoàng nào mà còn dám lý luận như vậy nữa thì chắc là sẽ bị phong trào nữ giới kiện ra toà án nhân quyền vì lỗi kỳ thị phái nữ. Do đó mà chúng ta thấy cần phải đi tìm câu trả lời khác, làm sao để mà tránh được sự kỳ thị phái tính, và nếu có thể được thì gắng bồi thường danh dự của mấy bà đã bị xúc phạm từ mấy chục thế kỷ qua.
Danh dự của phụ nữ đã bị xúc phạm như thế nào?
Ta hãy lật lại những trang viết về phụ nữ trong xã hội Do thái thời Chúa Giêsu thì biết. Người công chính mỗi ngày tạ ơn Chúa như thế này: “Chúc tụng Đấng đã không dựng nên con làm kẻ ngoại, bởi vì dân ngoại không là đồ gì trước mặt Chúa hết! Chúc tụng Đấng đã không dựng nên con làm đàn bà, bởi vì đàn bà không bị ràng buộc bởi điều răn Chúa! Chúc tụng Chúa đã không dựng nên con làm kẻ ngu dốt, vì kẻ ngu dốt không biết đâu là tội vạ cả!”. Sử gia Flavius Josephus cũng ghi lại tập tục pháp đình Do thái vào thời Chúa Giêsu là trong các vụ xử kiện không nên kêu các bà ra làm nhân chứng, bởi vì đàn bà nhẹ dạ và hay nói liều (Antiquitates Judaicae lib.IV, 8,15). Chính trong cái bối cảnh lịch sử đó mà ta thấy cái tầm quan trọng của việc Chúa Giêsu hiện ra cho các bà, sai các bà loan tin cho các tông đồ rằng Ngài đã sống lại. Như vậy Chúa Giêsu trả lại danh dự cho các bà khi giao cho các bà vai trò làm nhân chứng cho Ngài, vào thời buổi mà người ta coi lời của phụ nữ không đáng tin cậy.
Chúa Giêsu có hiện ra với Đức Mẹ không?
Chúng ta đoán chắc rằng theo lẽ đương nhiên thì liền sau khi sống lại, Chúa Kitô đã đi gặp mẹ của Ngài ngay. Tuy nhiên, Phúc âm đã yên lặng về điểm đó. Tại sao vậy? Lý do là vì các thánh sử không chủ ý ghi lại hết tất cả các biến cố đã diễn ra theo kiểu một ký giả viết bài tường thuật ở nhật báo hay là một nhân viên an ninh phải thảo biên bản phúc trình. Ta đừng quên rằng khi viết sách Phúc âm, các thánh sử cùng chia sẻ một sứ mạng mà Chúa ủy thác cho các tông đồ, tức là rao giảng Tin mừng cho muôn dân. Sách Phúc âm là một phương tiện chính yếu để thực thi sứ mạng đó. Vì thế không lạ gì mà các thánh sử chỉ ghi lại những lần Chúa hiện ra cho những người đã lãnh nhận ơn gọi và sứ mạng đi làm nhân chứng.
Trong số đó những người đi làm nhân chứng có cả các bà nữa, phải không?
Đúng như vậy. Và càng ngày, người ta càng lưu ý đến điểm này hơn. Trước đây bởi vì các sách thần học do các ông viết, cho nên các ông chỉ để ý đến những lần Chúa kêu gọi đàn ông, thí dụ các thánh tông đồ hay là 72 môn đệ. Từ ngày các bà bắt đầu nghiên cứu thần học, thì các bà mới vạch ra những đường lối cách mạng của Chúa Giêsu. Thực vậy, nếu mà Chúa Giêsu chỉ kêu gọi các ông đi làm môn đệ thì có chi khác lạ với các rabbi Do thái đâu; cái mới lạ của Giao ước mới là ở chỗ Ngài kêu gọi cả các bà nữa, và Ngài đã thành công hơn nhiều. Bằng chứng là khi thuật lại cảnh đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá, thánh Matthêu ở chương 27, câu 55-56 đã viết rằng: “Có nhiều phụ nữ đứng gần kề, những người đã theo Chúa từ Galilê và đã phục vụ Ngài, trong số đó có Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê và Giuse, và bà mẹ của các con ông Zebedeo”. Hai câu văn ngắn ngủi nhưng gói ghém rất nhiều điều quan trọng. Thứ nhất, là ngay từ hồi Chúa Giêsu bắt đầu sứ mạng giảng đạo ở Galilea, thì đã có một số phụ nữ đi theo Ngài. Nói khác đi, ngay từ đầu sứ vụ Ngài đã gọi cả người nam lẫn người nữ đi theo Ngài, và họ đã đáp lại tiếng gọi. Thứ hai, các bà hơn các ông một điểm là vào hồi Chúa bị đóng đinh vào thập giá thì các ông bỏ chạy trốn hết; chỉ còn các bà đứng lại chứng kiến; và tại vì chỉ có các bà chứng kiến cho nên chỉ có mấy bà mới biết và có thể làm chứng được, chứ các ông có biết gì đâu mà nói! Thứ ba, trong số biết bao phụ nữ đã theo Chúa Giêsu, Matthêu đã nhắc đến tên của ba bà: Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê, và bà mẹ của các con ông Zebedeo. Họ đã chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu; họ đã chứng kiến việc an táng Chúa (chương 27, câu 61); và họ là những người đầu tiên chứng kiến biến cố Phục sinh khi tới mộ Chúa (28, câu 1-10). Từ đó, kết luận số một: chứng tá của các bà mạnh hơn các ông bởi vì các bà đã theo dõi chứng kiến câu chuyện từ đầu đến cuối, còn các ông biết được điều gì là vì được các bà kể lại cho nghe thôi. Kết luận số 2: trong cộng đồng các tín hữu của đức Kitô, các ông hãy khiêm tốn chịu lép vế đi. Kết luận số 3: Chúa Giêsu đã thực hiện một cuộc cách mạng xã hội quan trọng trong việc thăng tiến phụ nữ, nhưng mà trải qua hơn hai mươi thế kỷ, Giáo hội do mấy ông điều khiển cứ muốn dìm các bà xuống.
Và lại còn bôi nhọ các bà nữa, thí dụ coi Maria Madalena là một cô gái điếm hoàn lương.
Nói cũng hơi oan. Đâu có ai chủ ý bôi nhọ các bà đâu! Vấn đề là tại vì thời Trung cổ, ít khi có dịp đi viếng đất thánh nên nhiều người không sành địa lý của miền Palestina, từ đó mới có những chuyện giải thích sai. Câu chuyện như thế này. Các Phúc âm đều kể lại cảnh một phụ nữ xức dầu vào chân Chúa đang lúc Ngài đang dùng bữa. Bà ấy tên gì? gốc gác ra sao? Marcô (chương 14 câu 3) và Matthêu (chương 26, câu 7) chỉ nói trống là có một phụ nữ, nhưng không cho biết tên. Gioan chương 12 câu 3 thì nói là Maria chị của Ladarô. Dù sao thì sự việc xảy ra ở Bêtania, vì vậy mà người ta gọi bà ta là Maria Bêtania, chị em với Marta và Ladarô. Nhưng Luca, chương 7 câu 36 cũng có nói tới một cuộc xức dầu tương tự, do một người đàn bà tội lỗi; vì thế không lạ gì mà người ta gắn ghép hai cảnh với nhau. Có điều là Maria Bêtania không thể đồng hóa với Maria Mađalêna được, bởi vì Bêtania và Magdala là hai làng hoàn toàn khác nhau. Ngày nay, trong ngày lễ kính thánh Maria Mađalêna (22 tháng 7), bài Phúc âm không còn phải là cảnh phụ nữ tội lỗi rửa chân xức dầu cho Chúa nữa, nhưng là cảnh Chúa Phục sinh hiện ra với bà, và ủy thác cho bà đi loan tin cho các môn đệ biết biến cố Phục sinh. Nói rằng Giáo hội bôi nhọ các bà, nhất là bà Maria Mađalêna, thì cũng không hoàn toàn đúng. Bởi vì trong ca tiếp liên ngày lễ Phục sinh, chúng ta đã đọc thấy những lời sau đây: Dic nobis Maria, quid vidisti in via? Maria, bà hãy nói cho chúng tôi nghe, bà đã thấy gì dọc đường? Phụng vụ không có hỏi chứng nhân nào khác ngoại trừ Maria Mađalêna. Chính vì vậy mà thời Trung cổ, Maria Mađalêna đã được mang biệt hiệu là “apostola apostolorum”, tông đồ của các tông đồ. Maria đã được Chúa sai đi mang tin vui trọng đại cho các thánh tông đồ, những vị mà về sau cũng lại được chính Chúa sai đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân. Điểm này đã được đức Gioan Phaolô II nêu bật trong tông thư về “Phẩm giá phụ nữ” (Mulieris Dignitatem) số 16. Đâu có phải là trong suốt 20 thế kỷ qua Mađalêna bị hạ nhục đâu! Dù sao, chúng ta cũng phải ghi ơn các nữ thần học gia vì đã lưu ý các ông rằng các bà cũng được ơn gọi đi làm chứng nhân cho Chúa không những như các ông mà còn trước các ông nữa. Chưa hết đâu, các nữ thần học gia còn muốn lật ngược thế cờ, không những là cho mấy ông xuống hạng B mà còn khẳng định rằng chính các bà mới là biểu tượng của Giáo hội Chúa Kitô. (Ta có thể kết luận: do đó nếu các ông không biến thành đàn bà thì sẽ không đáng làm phần tử Giáo hội Chúa Kitô). Người ta lập luận như sau: trong bốn Phúc âm, thánh sử viết về Giáo hội nhiều nhất là Matthêu; thế nhưng người đề cao vai trò của phụ nữ hơn hết cũng là Matthêu. Vài bằng chứng. Trong gia phả của Chúa Giêsu, Matthêu xen tên của bốn phụ nữ, một điều hoàn toàn trái ngược với truyền thống Do thái thời đó. Suốt tác phẩm của mình Matthêu muốn cho thấy sự đối chọi giữa Giáo hội với Do thái giáo, vì người Do thái mù quáng không chịu nhìn nhận những lời tiên tri đã hoàn tất nơi Đức Kitô. Sự đối chọi ấy nổi bật hơn cả vào lúc Chúa ra đời và vào lúc Chúa sống lại. Hồi Chúa ra đời, sự đối chọi được biểu lộ giữa các học sĩ Đông phương, tượng trưng cho dân ngoại, đến thờ lạy Chúa, đối lại với vua Hêrôđê tìm cách giết hài nhi. Vào lúc Chúa sống lại, sự đối chọi được tượng trưng qua nhóm các người phụ nữ, đại diện cho Giáo hội, làm chứng biến cố Phục sinh, đối lại với các lính canh, tượng trưng cho Do thái giáo, muốn bịt miệng lại. Kết luận: cộng đồng Kitô hữu, gồm nên bởi dân ngoại và các phụ nữ, tức là những thành phần bị người Do thái coi khinh, thì nay được ơn đón nhận mạc khải của Chúa. Do đó mà nếu các ông không biết xếp hàng đứng sau các bà thì cũng sẽ bị loại. Tôi xin miễn bàn.
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, op.
Ảnh: Internet
Thứ Hai Tuần Bát Nhật Phục Sinh Năm C
PHÚC ÂM: Mt 28, 8-15
"Hãy đi nói với anh em đến Galilêa mà gặp Ta ở đó".
Khi ấy, các bà vội ra khỏi mồ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta".
Đang khi các bà lên đường, thì mấy người lính canh vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả những gì đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ lão, và sau khi đã bàn định, họ cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: "Các anh hãy nói rằng: Ban đêm khi chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy trộm xác ông. Nếu việc này đến tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thương lượng với ông, không để các anh phải phiền hà đâu". Bọn lính canh nhận tiền và đã làm y như họ căn dặn chúng. Bởi thế, lời đó được phao truyền nơi người Do-thái cho đến ngày nay.
Đó là lời Chúa.

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2019

CÂU CHUYỆN CHÚA GIÊSU PHỤC SINH

Cứ mỗi đêm, một câu chuyện được kể, và một mạng người được thóat chết. Nhà vua cứ mãi lắng nghe, từng nhịp, từng nhịp, dòng chảy của thời gian. Cho đến khi không còn ai phải chết. Hai môn đệ trên đường Emmau, quay trở về Giêruselem và thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và họ đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.  
Như giữa hư và thực, các môn đệ bàng hoàng và ngây ngất, họ như tỉnh như say. Tâm trạng các môn đệ chất chứa đầy những hoang mang. Họ chụm vào nhau và kể cho nhau nghe những lần Chúa Giêsu hiện ra với họ. Đang lúc “tranh tối, tranh sáng” thì chúa Giêsu hiện đến, thế nhưng thay vì nhận ra Chúa thì các ông: “kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (Lc 24, 37). Thật là tội nghiệp cho các ngài, như vừa trải qua cơn ác mộng, sự thất vọng và những nỗi chán chường đã gặm nhấm tâm hồn các Ngài. Làm sao mà có thể “bình chân như vại được”, khi câu chuyện Chúa Giêsu sống lại cứ ngày một lan xa. Thấy các học trò còn e dè, và thậm chí còn ngờ vực, Chúa Giêsu phải trấn an các Ngài: “Sao anh em lại hoảng hốt? sao còn ngờ vực trong lòng? Nhìn chân tay thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc 24, 38-39 ). Chúa Giêsu lại tiếp tục kể cho các Tông đồ nghe, bắt đầu bằng kinh thánh: sách luật Mô-sê, các sách ngôn sứ và Thánh vịnh. Tâm hồn các Ngài chợt bừng tỉnh, Chúa Giêsu kéo họ ra khỏi những giấc mộng vàng của kiếp phù vân, Ngài sai các tông đồ ra đi và làm chứng cho Tin mừng Phục sinh. Đấng phục sinh còn ăn uống trước mặt họ. Ôi quả thật hạnh phúc, các Tông đồ không còn nhát đảm và sợ sệt nữa, Đức Giêsu Phục sinh đã làm cho niềm vui của các ngài òa vỡ, không thể im lặng được, họ cùng nhau đi đến với muôn dân loan tin mừng Chúa đã sống lại. Và phép lạ phục sinh đã xảy ra, người ta sám hối, con người tìm về với Chúa, lương tâm mọi người thức tỉnh, họ bắt đầu phản tỉnh: “Thưa các ông, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cvtđ 2,37).
Câu chuyện phục sinh chẳng bao giờ khép lại, người ta cứ mải mê kể cho nhau nghe, “khi ấy…Đức Giêsu…”, và mọi người thay nhau kể về câu chuyện hai môn đệ trên đường đi Emmau. Ngày hôm nay, cộng động Emmau do cha Henri Groúes sáng lập, nhằm giúp những người không nhà, không cửa tự tay xây dựng đời sống cho chính mình đã có mặt tại năm mươi quốc gia với 250 cộng đoàn. 
Trong thánh lễ mỗi ngày, linh mục cùng với cộng đòan dân Chúa, tiếp nối sứ mạng đã được Đức Giêsu ủy thác để vẫn mãi kể về câu chuyện Đấng đã Phục sinh Alleluia !
Lm Giacôbê Tạ Chúc
Ảnh: Catholic Covers
Chúa Nhật Phục Sinh Năm C
PHÚC ÂM: Ga 20, 1-9
"Người phải sống lại từ cõi chết".
Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu". Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.
Đó là lời Chúa.

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019

BÓNG TỐI ĐÃ BỊ TIÊU DIỆT

Những giờ khắc tang thương trên đồi Can-vê đã nhấn chìm vạn vật trong bóng tối im lìm, ảm đạm chết chóc, bởi vì: Con Thiên Chúa, đã chết! Giữa bầu khí ảm đạm đậm màu u tối đó, đến cả cỏ cây gỗ đá cũng phải xao xuyến, chấn động (x. Mt 27,51). Dường như Thiên Chúa bất lực trước sự dữ và thế lực bóng tối đã chiến thắng. Thế nhưng thật ra, chính Xa-tan lại là kẻ thất bại thảm hại bởi vì đêm nay, Con Thiên Chúa đã chết nhưng đã sống lại. Chính trong đêm nay, ánh sáng của Đấng Phục Sinh đã bừng lên tiêu diệt quyền lực bóng tối vốn thống trị tâm hồn con người. Dù cho hôm nao quỷ dữ đã chiến thắng “con người” trong Vườn địa đàng thì hôm nay, trên đồi Can-vê Đức Giê-su đã phục hồi lại tất cả. Thánh sử Gio-an khi chiêm nghiệm mầu nhiệm phục sinh đã khẳng định: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5).
Ảnh: Catholic Covers
Thứ Bảy Tuần Thánh
CANH THỨC VƯỢT QUA – LỄ VỌNG PHỤC SINH
PHÚC ÂM NĂM C: Lc 24, 1-12
"Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết?"
Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mồ mang theo những thuốc thơm đã dọn sẵn. Thấy hòn đá đã lăn ra khỏi mồ, nhưng bước vào, các bà không thấy xác Chúa Giêsu. Đang khi các bà còn ngơ ngác không hiểu việc đó, thì có hai người đứng gần các bà, y phục sáng chói. Các bà kinh hãi cắm mặt xuống đất, thì hai người lên tiếng bảo: "Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết? Người không còn ở đây. Người đã sống lại, các bà hãy nhớ lại Người đã nói với các bà thế nào khi Người còn ở xứ Galilêa. Người đã nói: Con Người phải bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi, bị đóng đinh vào thập giá và ngày thứ ba sẽ sống lại". Và các bà nhớ lại những lời Người đã nói.
Bỏ mồ đi về, các bà tường thuật lại tất cả sự việc cho mười một Tông đồ và các người khác. Các bà đó là Maria Mađalêna, Gioanna, Maria mẹ Giacôbê; và những người nữ khác cùng đi với họ cũng nói như vậy với các tông đồ. Nhưng những lời đó, các ông cho là truyện vớ vẩn, nên các ông không tin. Dầu vậy Phêrô cũng đứng dậy chạy ra mồ, nhưng khi cúi xuống nhìn, ông chỉ thấy những khăn liệm nằm đó và ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự đã xảy ra.
Đó là lời Chúa.

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

THẾ LÀ HOÀN TẤT

Lạy Chúa Giêsu,
vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con,
xin cho những người nghèo khổ được no đủ.

Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu,
xin cho các bạn trẻ đủ sức đối diện
với những khó khăn gay gắt của cuộc sống.

Vì Chúa bị kết án bất công,
xin cho chúng con can đảm bênh vực sự thật.

Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng,
xin cho phụ nữ và trẻ em được tôn trọng.

Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề,
xin cho những người bệnh tật được đỡ nâng.

Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh,
xin cho sự hiền hòa thắng được bạo lực.

Vì Chúa dang tay chết trên thập giá,
xin cho đất nối lại với trời,
con người nối lại mối dây liên đới với nhau.

Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui òa vỡ,
xin cho chúng con biết đón lấy đời thường
với tâm hồn thanh thản bình an. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
Ảnh: Catholic Covers
Thứ Sáu Tuần Thánh
TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA
PHÚC ÂM: Ga 18, 1 - 19, 42
"Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".
C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi với môn đệ sang qua suối Xêrông, ở đó có một khu vườn, Người vào đó cùng với các môn đệ. Giuđa, tên phản bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa Giêsu thường đến đấy với các môn đệ. Nên Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ binh do các thượng tế và biệt phái cấp cho, nó đến đấy với đèn đuốc và khí giới. Chúa Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho Mình, nên Người tiến ra và hỏi chúng: "Các ngươi tìm ai?" C. Chúng thưa lại: S. "Giêsu Nadarét". C. Chúa Giêsu bảo: "Ta đây". C. Giuđa là kẻ định nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng. Nhưng khi Người vừa nói "Ta đây", bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi chúng: "Các ngươi tìm ai?" C. Chúng thưa: S. "Giêsu Nadarét". C. Chúa Giêsu đáp lại: "Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta, thì hãy để cho những người này đi". C. Như thế là trọn lời đã nói: Con chẳng để mất người nào trong những kẻ Cha đã trao phó cho Con. Bấy giờ Simon Phêrô có sẵn thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị thượng tế, chém đứt tai bên phải. Đầy tớ ấy tên là Mancô. Nhưng Chúa Giêsu bảo Phêrô rằng: "Hãy xỏ gươm vào bao. Chén Cha Ta đã trao lẽ nào Ta không uống!" C. Bấy giờ, toán quân, trưởng toán và vệ binh của người Do-thái bắt Chúa Giêsu trói lại, và điệu Người đến nhà ông Anna trước, vì ông là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế năm ấy. Chính Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do-thái: để một người chết thay cho cả dân thì lợi hơn. Còn Phêrô và môn đệ kia vẫn theo Chúa Giêsu. Môn đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng tế, còn Phêrô đứng lại ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị thượng tế, nên đi ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. Cô nữ tì gác cửa liền bảo Phêrô: S. "Có phải ông cũng là môn đệ của người đó không?" C. Ông đáp: S. "Tôi không phải đâu". C. Đám thủ hạ và vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của Người. Chúa Giêsu đáp: "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ, Tôi thường giảng dạy tại hội đường và trong đền thờ, nơi mà các người Do-thái thường tụ họp, Tôi không nói chi thầm lén cả. Tại sao ông lại hỏi Tôi? Ông cứ hỏi những người đã nghe Tôi về những điều Tôi đã giảng dạy. Họ đã quá rõ điều Tôi nói". C. Nghe vậy, một tên vệ binh đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà nói: S. "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư". C. Chúa Giêsu đáp: "Nếu Ta nói sai, hãy chứng minh điều sai đó; mà nếu Ta nói phải, thì tại sao anh lại đánh Ta?" C. Rồi Anna cho giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế Caipha. Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi. Họ bảo ông: S. "Có phải ông cũng là môn đệ người đó không?" C. Ông chối và nói: S. "Tôi không phải đâu". C. Một tên thủ hạ của vị thượng tế, có họ với người bị Phêrô chém đứt tai, cãi lại rằng: S. "Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó sao?" C. Phêrô lại chối nữa, và ngay lúc đó gà liền gáy.
Bấy giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến pháp đình. Lúc đó tảng sáng và họ không vào pháp đình để khỏi bị nhơ bẩn và để có thể ăn Lễ Vượt Qua. Lúc ấy Philatô ra ngoài để gặp họ và nói: S. "Các ngươi tố cáo người này về điều gì". C. Họ đáp: S. "Nếu hắn không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp cho quan". C. Philatô bảo họ: S. "Các ông cứ bắt và xét xử theo luật của các ông". C. Nhưng người Do-thái đáp lại: S. "Chúng tôi chẳng có quyền giết ai cả". C. Thế mới ứng nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ phải chết cách nào. Bấy giờ Philatô trở vào pháp đình gọi Chúa Giêsu đến mà hỏi: S. "Ông có phải là Vua dân Do-thái không?" C. Chúa Giêsu đáp: "Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?" C. Philatô đáp: S. "Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?" C. Chúa Giêsu đáp: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng nước tôi không thuộc chốn này". C. Philatô hỏi lại: S. "Vậy ông là Vua ư?" C. Chúa Giêsu đáp: "Quan nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng tôi". C. Philatô bảo Người: S. "Chân lý là cái gì?" C. Nói lời này xong, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ: S. "Ta không thấy nơi người này có lý do để khép án. Nhưng theo tục lệ các ngươi, ta sẽ phóng thích cho các ngươi một tù nhân vào dịp Lễ Vượt Qua. Vậy các ngươi có muốn ta phóng thích Vua Do-thái cho các ngươi chăng?" C. Họ liền la lên: S. "Không phải tên đó, nhưng là Baraba". C. Baraba là một tên cướp. Bấy giờ Philatô truyền đem Chúa Giêsu đi mà đánh đòn Người. Binh sĩ kết một triều thiên bằng gai nhọn đội lên đầu Người và nói: S. "Tâu Vua Do-thái!" C. Và vả mặt Người. Philatô lại ra ngoài và nói: S. "Đây ta cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi để các ngươi biết rằng ta không thấy nơi người ấy một lý do để kết án". C. Bấy giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ. Philatô bảo họ: S. "Này là Người". C. Vừa thấy Người, các thượng tế và vệ binh liền la to: S. "Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá!" C. Philatô bảo họ: S. "Đấy các ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần ta, ta không thấy lý do nào kết tội ông". C. Người Do-thái đáp lại: S. "Chúng tôi đã có luật, và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Thiên Chúa". C. Nghe lời đó Philatô càng hoảng sợ hơn. Ông trở vào pháp đình và nói với Chúa Giêsu: S. "Ông ở đâu đến?" C. Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại câu nào. Bấy giờ Philatô bảo Người: S. "Ông không nói với ta ư? Ông không biết rằng ta có quyền đóng đinh ông vào thập giá và cũng có quyền tha ông sao?" C. Chúa Giêsu đáp: "Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho, vì thế nên kẻ nộp tôi cho quan, mắc tội nặng hơn". C. Từ lúc đó Philatô tìm cách tha Người. Nhưng người Do-thái la lên: S. "Nếu quan tha cho nó, quan không phải là trung thần của Xêsa, vì ai xưng mình là vua, kẻ đó chống lại Xêsa". C. Philatô vừa nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài rồi ông lên ngồi toà xử, nơi gọi là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là Gabbatha. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu ngày chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Philatô bảo dân: S. "Đây là vua các ngươi". C. Nhưng họ càng la to: S. "Giết đi! Giết đi! Đóng đinh nó đi!" C. Philatô nói: S. "Ta đóng đinh vua các ngươi ư?" C. Các thượng tế đáp: S. "Chúng tôi không có vua nào khác ngoài Xêsa". C. Bấy giờ quan giao Người cho họ đem đóng đinh.
Vậy họ điệu Chúa Giêsu đi. Và chính Người vác thập giá đến nơi kia gọi là Núi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Golgotha. Ở đó họ đóng đinh Người trên thập giá cùng với hai người khác nữa: mỗi người một bên, còn Chúa Giêsu thì ở giữa. Philatô cũng viết một tấm bảng và sai đóng trên thập giá. Bảng mang những hàng chữ này: "Giêsu, Nadarét, vua dân Do-thái". Nhiều người Do-thái đọc được bảng đó, vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng viết thì bằng tiếng Do-thái, Hy-lạp và La-tinh. Vì thế các thượng tế đến thưa với Philatô: S. Xin đừng viết "Vua dân Do Thái", nhưng nên viết: "Người này đã nói: 'Ta là vua dân Do-thái'". C. Philatô đáp: S. "Điều ta đã viết là đã viết". C. Khi quân lính đã đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá rồi thì họ lấy áo Người chia làm bốn phần cho mỗi người một phần, còn cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ trên xuống dưới. Họ bảo nhau: S. "Chúng ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được thì lấy". C. Hầu ứng nghiệm lời Kinh Thánh: "Chúng đã chia nhau các áo Ta và đã rút thăm áo dài của Ta". Chính quân lính đã làm điều đó.
Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có Mẹ Người, cùng với chị Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas và Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng: "Hỡi Bà, này là con Bà". C. Rồi Người lại nói với môn đệ: "Này là Mẹ con". C. Và từ giờ đó môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình. Sau đó, vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, Chúa Giêsu nói: "Ta khát!" C. Ở đó có một bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bông biển thấm đầy dấm cắm vào đầu ngành cây hương thảo đưa lên miệng Người. Khi đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói: "Mọi sự đã hoàn tất". C. Và Người gục đầu xuống trút hơi thở cuối cùng.
(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
Hôm đó là ngày chuẩn bị lễ: để tội nhân khỏi treo trên thập giá trong ngày Sabbat, vì ngày Sabbat là ngày đại lễ, nên người Do-thái xin Philatô cho đánh dập ống chân tội nhân và cho cất xác xuống. Quân lính đến đánh dập ống chân của người thứ nhất và người thứ hai cùng chịu treo trên thập giá với Người. Nhưng lúc họ đến gần Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân Người nữa, tuy nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng, mà lời chứng của người đó chân thật, và người đó biết rằng mình nói thật để cho các người cũng tin nữa. Những sự việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: "Người ta sẽ không đánh dập một cái xương nào của Người". Lời Kinh Thánh khác rằng: "Họ sẽ nhìn xem Đấng họ đã đâm thâu qua".
Sau đó, Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu, nhưng thầm kín vì sợ người Do-thái, xin Philatô cho phép cất xác Chúa Giêsu. Philatô cho phép. Và ông đến cất xác Chúa Giêsu. Nicôđêmô cũng đến, ông là người trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm. Ông đem theo chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm hương. Họ lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc thơm theo tục khâm liệm người Do-thái. Ở nơi Chúa chịu đóng đinh có cái vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. Vì là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai táng Chúa Giêsu trong mộ đó.
Đó là lời Chúa.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

CÂU CHUYỆN RỬA CHÂN

…Chúng tôi cũng xin tham gia góp chuyện. Tôi kể lại lần mình được dâng Lễ Thứ Năm Tuần Thánh tại một nhà thờ do các chị Dòng Phan-sinh Thừa Sai Đức Mẹ phụ trách. Vừa bước ra đầu Lễ, tôi đã thấy hay hay vui vui, cũng hơi lo lo hồi hộp vì các soeurs “chịu chơi” quá, chọn luôn mười hai tông đồ là sáu cậu bé áo sơ-mi trắng và sáu… cô bé áo đầm đồng phục học sinh. Đến lúc bắt đầu nghi thức rửa chân, tôi lại ngẩn ngơ một lần nữa vì phát hiện ra có một số em bị “thông manh”, nhìn thoáng qua không ai nghĩ các em là người khiếm thị ở Mái Ấm Như Nghĩa. Thú thật, tôi quỳ xuống rửa chân mà lòng bàng hoàng xúc động. Tôi bất giác nâng đôi bàn chân nhỏ nhắn xanh xao gầy gò của từng em để đặt lên đó một nụ hôn trân trọng và trìu mến.
Các soeurs sau Thánh Lễ có bảo tôi:
-“Cha ơi, đâu có ai bắt cha phải hôn chân người ta đâu !”
Tôi liền kể lại cho các chị nghe ấn tượng từ gần bốn mươi năm trước, khi còn là một chú thiếu niên, tôi đã gặp được nơi cha Pacifique Nguyễn Bình An, Dòng Phan-xi-cô. Lần ấy, cũng buổi chiều Tiệc Ly, cha Bình An đã tận tụy ân cần quỳ rửa và sau đó cúi gập người xuống để hôn chân từng người, trán cha lấm tấm những hạt mồ hôi, không phải do nóng bức mùa hè mà do cha đã kiệt sức lắm rồi. Không lâu sau đó, cha qua đời vì căn bệnh ung thư quái ác. Mẹ tôi đi dự đám tang ngài về cứ xót xa tiếc thương:
-“Cha tốt lành quá, ông Thánh sống nên chả trách Chúa cất về sớm !”
Còn bố tôi thì bảo:
-“Cha là người Bình An đến… hai lần đấy !”
Tôi tò mò hỏi tại sao thì mới được bố tôi giải nghĩa cho biết tên thánh của cha cũng là Bình An.
Thế rồi Tam Nhật Thánh năm nay cũng đã đến, tôi xin Đức Cha Bắc Ninh cho hai anh em DCCT chúng tôi được về giúp phụng vụ ở trại phong Quả Cảm thân quen. Cô Xuân và cô Yên, hai chị Tu Hội Thánh Tâm đang phục vụ ở đây mừng lắm, bảo là biến cố lịch sử vì có lẽ phải hơn 50 năm rồi trại phong chưa bao giờ có Thánh Lễ Tam Nhật Thánh. Chúng tôi bàn với nhau rồi ngỏ ý với các bệnh nhân: “Ở đây chỉ có hơn 20 người Công Giáo cả ông lẫn bà, cả anh lẫn chị tham dự thì xin cho rửa chân hết”
Phút chót, dễ thương quá, có thêm hai cụ ông là người bên Lương đến xin dự Lễ nữa, vậy mà cũng chẳng thể gom đủ 12 ông như quy định của Sách Lễ Rô-ma. Vậy là yên tâm lớn, không sợ các đấng các bậc đem luật chữ đỏ ra bắt lỗi !
Năm giờ rưỡi chiều, Thánh Lễ bắt đầu… Đến nghi thức rửa chân thì có một tình huống bất ngờ xảy ra, một cụ ông giơ tay xin phát biểu:
-“Thưa hai cha, con không còn chân để được rửa ạ !”
Tôi buột miệng:
-“Cụ ơi, không sao, chúng con sẽ rửa tay cho cụ vậy !”
Dãy ghế bên này thêm một cụ bà thắc mắc:
-“Nhưng thưa cha, con cũng chẳng còn tay để cho cha rửa đâu !”
Chúng tôi nhìn kỹ, quả thật đôi tay của cụ không còn bàn, cũng chẳng còn ngón nào, nó cụt ngủn ở cổ tay với những mấu mứu đầu xương nhô ra mà thôi. Cha Hoàng Xô Băng nói luôn:
-“Thưa, nếu không còn tay thì ta rửa… mặt vậy !”
Cả ngôi nhà thờ bé nhỏ với mấy chục con người hạnh phúc đã cười vang, không quên kèm theo một tràng pháo tay lụp bụp của những bàn tay không còn bàn và thiếu ngón như thế…
Trời ơi, đối với anh em chúng tôi, có lẽ trong suốt cuộc đời mục vụ sau này, sẽ mãi mãi chẳng bao giờ quên được kỷ niệm xúc động tuyệt vời có một không hai ấy…
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT
Ảnh: Internet
Thứ Năm Tuần Thánh – Thánh lễ chiều tưởng niệm Bữa Tiệc Ly của Chúa
PHÚC ÂM: Ga 13, 1-15
"Ngài yêu thương họ đến cùng".
Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: "Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?" Chúa Giêsu đáp: "Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu". Phêrô thưa lại: "Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con". Chúa Giêsu bảo: "Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy". Phêrô liền thưa: "Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa". Chúa Giêsu nói: "Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu". Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: "Không phải tất cả các con đều sạch đâu".
Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: "Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con".
Đó là lời Chúa.
Lạy Chúa, Ngài cao trọng nhưng lại cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Con cũng muốn xin như Phêrô, xin Chúa không chỉ rửa chân con, mà hãy rửa cả tay và đầu con nữa. Amen.

GIUĐA BÁN CHÚA

Qua bao đời nay, hình ảnh Giu-đa trở nên biểu tượng của bóng tối và của sự phản bội, một sự phản bội bị người đời nguyền rủa. Thật tội nghiệp cho bản thân Giu-đa và cũng chua xót cho Chúa Giê-su, một người Thầy đã yêu thương hết tình mà vẫn bị phản bội. Không lẽ Chúa đã lầm khi kêu gọi Giu-đa làm môn đệ? Nhưng rất rõ ràng Giu-đa là một trong số mười hai tông đồ đã từng được Chúa tuyển chọn sau một đêm thức trắng cầu nguyện. Cũng như các tông đồ khác, Giu-đa được nghe, được thấy những gì Chúa Giê-su dạy và sống, ông cũng được tín nhiệm giao cho chức vụ thủ quỹ của nhóm. Thật ra, Chúa không lầm khi chọn Giu-đa. Và cũng không phải bỗng dưng một sớm một chiều mà ông quay lưng lại với Chúa. Chúa thấy Giu-đa đang từng bước một bước gần đến hố thẳm và Ngài vẫn mở cho ông nhiều cánh cửa để quay đầu trở lại: khi thì nhắc nhở, dạy dỗ, khi thì trao tấm bánh cho Giu-đa, Chúa muốn mở ra cho ông một lối thoát, nhưng Giu-đa đã từ chối mở lòng ra, rắp tâm hãm hại Thầy bằng một cái hôn.
Ảnh: Internet
Thứ Tư Tuần Thánh
PHÚC ÂM: Mt 26, 14-25
"Con Người ra đi như đã được ghi chép sẵn từ trước, nhưng khốn thay cho kẻ sẽ làm cho Ngài bị phản nộp".
Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và thưa với họ: "Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?" Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người.
Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn Bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: "Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?" Chúa Giêsu đáp: "Các con hãy vào thành đến với một người kia, và nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông". Các môn đệ làm như Chúa Giêsu đã truyền, và sửa soạn Lễ Vượt Qua.
Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói: "Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy". Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: "Thưa Thầy, có phải con không?" Người trả lời: "Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ sẽ nộp Thầy. Thật ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người, thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!" Giuđa, kẻ phản bội, cũng thưa Người rằng: "Thưa Thầy, có phải con chăng?" Chúa đáp: "Đúng như con nói".

"Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân" (Ga 2,17)