Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2019

CON RẮN TRONG LY RƯỢU

Ở Trung Quốc thời xưa có một người đàn ông tên là Lý Quảng. Một hôm, người này quyết định đến thăm một người bạn đã lâu không gặp. Ngay khi nhìn thấy dáng vẻ tiều tụy, ốm o của bạn mình, Lý Quảng đã nhận ra hẳn là bạn mình đã gặp phải chuyện gì đó không hay.
Khi Lý Quảng mới hỏi nguyên cớ làm sao lại ra nông nỗi này, người bạn đáp rằng đó là do một bữa tiệc được tổ chức ở nhà Lý Quảng.
"Trong bữa tiệc đó, anh đã nâng một chén rượu mời tôi, và khi đó, khi nâng ly, tôi nhìn thấy một con rắn nhỏ nằm trong đó, ngay lập tức, tôi đã cảm thấy không khỏe trong người. Kể từ đó, tôi cứ nằm trên giường mà chẳng thể nào làm được việc gì", người bạn giãi bày.
Lý Quảng vô cùng bối rối. Khi về đến nhà, Lý Quảng phát hiện ra trên tường phòng nhà mình có treo một cây cung có chạm khắc hình một chú rắn và hiểu ra mọi chuyện. Lý Quảng cho người đến đón người bạn kia tới nhà mình chơi, rồi lại bày một chiếc bàn tiệc giống hệt như lần trước.
Ban đầu, Lý Quảng quay phần cây cung có con rắn ra ngoài, rồi rót đầy cốc rượu mời người bạn nọ, bảo người này nâng ly xem có thấy gì không. Người này trả lời: "Đúng là con rắn tôi nhìn thấy lần trước."
Sau đó, Lý Quảng mỉm cười rồi lấy cây cung treo ở trên tường xuống. "Giờ thì anh có nhìn thấy con rắn nữa không?" Người bạn vô cùng ngạc nhiên khi thấy con rắn biến mất trong cốc rượu của mình.
Từ đó trở đi, cả tâm bệnh lẫn thân bệnh của người này, chẳng chữa cũng tự hết.
Bài học rút ra: Trên đời này có rất nhiều người giống như người bạn của Lý Quảng: Không điều tra rõ sự tình nhưng luôn khăng khăng tin vào một điều mơ hồ để rồi sợ hãi, chọn cách né tránh và để những năm tháng thanh xuân tự tàn lụi đi.
Chính vì thế, khi trong lòng có uẩn khúc hoặc hồ nghi, không nên để đó mà phải tìm hiểu rõ sự tình, tránh để bản thân phải chịu đựng những thiệt hại không đáng có.
Ảnh: Internet
Bài Tin Mừng ngày hôm nay, các môn đệ cũng sợ hãi khi trời tối, cuồng phong nổi lên mà Chúa vẫn chưa đến với họ.
Thứ Bảy Tuần II Phục Sinh Năm C
PHÚC ÂM: Ga 6, 16-21
"Họ thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển".
Chiều đến, các môn đệ Chúa Giêsu xuống bờ biển. Rồi lên thuyền, sang bên kia, trẩy về hướng Capharnaum. Trời đã tối, mà Chúa Giêsu vẫn chưa đến với họ. Bỗng cuồng phong thổi lên, biển động mạnh. Khi chèo đi được chừng hai mươi lăm hay ba mươi dặm, thì họ thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển, tiến lại gần thuyền, họ hoảng sợ. Nhưng Người nói với họ: "Chính Thầy đây, đừng sợ". Họ định rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc ấy, thuyền đã đến nơi họ định tới.
Đó là lời Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con biết phó thác trọn vẹn nơi Ngài, để Ngài dẫn con đi bình an. Amen.

THẤY THẦY LÀ THẤY CHÚA CHA

Giống như Tô-ma đòi hỏi phải “xem tận mắt, bắt tận tay” thì mới tin, ông Phi-líp-phê cũng nài xin: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14,6). Hẳn Đức Giê-su đã tỏ ra mối tương quan gắn bó hết sức thân thiết với Chúa Cha đến nỗi các môn đệ cảm thấy bị thu hút mãnh liệt và khao khát được “thấy Chúa Cha” dù chỉ một lần cũng đã mãn nguyện rồi. Về phương diện này, có thể nói Chúa Giê-su đã “tiếp thị” thành công. Thế nhưng về phía các môn đệ thì vẫn còn bất cập. Diễm phúc mà các ông khao khát đang ở trong tầm tay các ông mà các ông không biết. Một thoáng buồn ẩn trong lời trách nhẹ nhàng của Chúa Giê-su: “Thầy ở với anh em bấy lâu mà anh chưa biết Thầy ư?” Ngài mạc khải cho các ông một chân lý, đồng thời hé mở một cánh cửa để đạt thấu điều các ông mong ước đó: “Ai thấy Thầy là Chúa Cha.” Và bí quyết để đạt được sự kết hợp diễm phúc với Chúa Cha là “tin vào Thầy” và “tuân giữ Lời Thầy.”
Ảnh: Dòng Tên
Thứ Sáu Tuần II Phục Sinh Năm C
Ngày 3/5 Thánh Philipphê và Giacôbê, Tông Đồ
PHÚC ÂM: Ga 14, 6-14
"Nếu điều gì các con nhân danh Thầy mà xin, Thầy sẽ làm cho".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng Tôma rằng: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. Nếu các con biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, các con biết và đã xem thấy Người".
Philipphê thưa: "Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con".
Chúa Giêsu nói cùng ông rằng: "Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy ư? Philipphê, ai thấy Thầy là xem thấy Cha. Sao con lại nói: 'Xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha?' Con không tin Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy ư? Những điều Thầy nói với các con, không phải tự mình mà nói, nhưng chính Cha ở trong Thầy, Ngài làm mọi việc. Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy. Ít ra các con hãy tin vì các việc Thầy đã làm. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha. Và điều gì các con nhân danh Thầy mà xin Cha, Thầy sẽ làm, để Cha được vinh hiển trong Con. Nếu điều gì các con nhân danh Thầy mà xin cùng Thầy, Thầy sẽ làm cho".
Đó là lời Chúa.

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2019

ÐỨC MẸ GUADALUPE

Dạo tháng 5/1990, Ðức Gioan Phaolô II đã tôn phong chân phước cho một người thổ dân Mehico tên là Juan Diego, người được Ðức mẹ hiện ra tại Guadalupe...
Juan Diego là một người thổ dân nghèo sống với người cậu tại làng Telpetlao thuộc ngoại ô thủ đô Mehico vào khoảng thế kỷ 16. Một buổi sáng thứ bảy nọ, trên đường đi đến thánh đường để dự thánh lễ, Juan Diego bỗng nghe có tiếng hát du dương từ trên một ngọn đồi. Anh tiến lại gần và thấy một thiếu nữ xinh đẹp tự xưng là Trinh Nữ Maria. Ðức Mẹ nói với người thổ dân nghèo như sau: "Ta muốn có một đền thờ được dựng lên tại đây để Ta dùng tình thương, niềm cảm thông, sự giúp đỡ và bảo vệ của Ta mà bày tỏ Thiên Chúa cho loài người. Con hãy đi gặp vị giám mục Mehico và nói với Ngài rằng Ta sai con đến gặp Ngài để bày tỏ ý muốn của Ta. Con hãy tin tưởng rằng Ta sẽ biết ơn con và ân thưởng cho con. Ta sẽ làm cho con được giàu có và tôn vinh con".
Juan đến gặp vị giám mục, nhưng anh ta buồn bã trở về làng, vì giám mục không tin lời của anh. Ðức mẹ lại hiện ra cho anh một lần nữa và cũng sai anh mang một sứ điệp như thế đến cho vị giám mục. Nhưng lần thứ hai, dù cho anh có van nài khóc lóc, vị giám mục vẫn một mực không tin. Vị giám mục nói với người thổ dân nghèo rằng: "Nếu Ðức Mẹ thực sự muốn điều đó thì xin Ngài hãy bày tỏ một dấu lạ". Và ngài bí mật cho người theo dõi. Lần thứ ba, Ðức Mẹ lại hiện ra cho Juan Diego, nhưng Ngài bảo anh: "Hãy trở lại vào ngày mai và Ngài sẽ cho vị giám mục một dấu lạ".
Ngày hôm sau, Juan Diego không thể đến điểm hẹn với Ðức Mẹ được vì anh còn phải đi tìm thầy thuốc cho người cậu đang mắc bệnh. Nhưng khi đi qua ngọn đồi, Juan vẫn được Ðức Mẹ hiện ra. Ngài bảo đảm với anh rằng người cậu của anh sẽ được lành bệnh và thay vì để Juan tiếp tục lên đường đi Mehico để tìm thầy thuốc, Ðức Mẹ đã sai anh đến nơi Ngài hiện ra cho anh lần đầu tiên. Tại đây, Ngài sẽ cho anh những cánh hoa thật đẹp và dấu lạ để mang đến cho vị giám mục... Lúc bấy giờ đang là mùa đông và ngọn đồi nơi Juan được Ðức Mẹ hiện ra thường chỉ có những cây cỏ của sa mạc như các loại gai và xương rồng. Thế nhưng, hôm đó, hoa bỗng nở rộ trong sa mạc. Juan hái lấy dâng cho Ðức Mẹ, Ðức Mẹ sờ đến những cánh hoa và bảo anh lấy chiếc áo choàng để đựng hoa mang đến cho vị giám mục...
Khi Juan vừa mở chiếc áo choàng ra để lấy hoa cho vị giám mục xem thì lạ lùng thay, hình ảnh Ðức Mẹ đã được in trên chiếc áo của anh... Tin ở lời Ðức Mẹ, vị giám mục đã tức tốc lên đường đến làng Ðức Mẹ đã hiện ra cho anh Juan. Ngài nhận thấy người cậu của anh đã được lành bệnh. Các cuộc lành bệnh lạ lùng đã diễn ra từ đó... Một đền thánh dâng kính Ðức Mẹ đã được xây cất để rồi cuối cùng trở thành Vương cung thánh đường Guadalupe như chúng ta vẫn quen gọi.
Trong thánh lễ tôn phong chân phước cho Juan Diego tại đền thánh Guadalupe ngay buổi chiều chủ nhật khi vừa đến Mehico, Ðức Gioan Phaolô II đã kêu gọi người dân Mehico hâm nóng lại tinh thần truyền giáo. Truyền giáo theo đúng nghĩa là được sai đi để mang sứ điệp đến cho người khác. Cũng giống như tất cả những ai được diễm phúc gặp Ðức Mẹ, chân phước Juan Diego đã được sai đi... Phải vất vả nhiều lần và dĩ nhiên, với sự giúp đỡ của Ðức mẹ, Juan Diego mới có thể thuyết phục được vị giám mục...
Người Kitô, từ bản chất là người được sai đi và sứ điệp của họ chính là sứ điệp của yêu thương... Cùng với những cánh hoa dâng tiến Mẹ trong tháng Năm này, chúng ta được mời gọi để mang những cánh hoa yêu thương đến cho mọi người. Tình thương, sự giúp đỡ của Mẹ dành cho chúng ta cũng phải được chúng ta diễn đạt, cao rao qua cuộc sống dạt dào Tình Mến đối với mọi người.
Trích sách Lẽ Sống
Ảnh: dongcong.org
Thứ Năm Tuần II Phục Sinh Năm C
PHÚC ÂM: Ga 3, 31-36
"Đức Chúa Cha thương mến Con Ngài, nên ban toàn quyền trong tay Con Ngài".
Khi ấy, ông Gioan nói để làm chứng về Chúa Giêsu rằng: "Đấng từ trên cao mà đến thì vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất. Đấng từ trời mà đến thì vượt trên hết mọi người. Điều gì Người thấy và nghe, thì Người làm chứng về điều đó. Nhưng lời chứng của Người không ai chấp nhận. Ai chấp nhận lời chứng của Người, thì quả quyết Thiên Chúa là Đấng chân thật. Đấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời của Thiên Chúa, vì được Chúa ban cho thần linh khôn lường. Cha yêu mến Con, nên đã ban mọi sự trong tay Con. Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Con, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy".
Đó là lời Chúa.

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

MỘT BÁC THỢ CAO QUÝ

... Nơi một Nhà Nguyện tại thành phố Santa Fe thuộc bang New Mexico bên Hoa Kỳ, có chiếc cầu thang thật đặc biệt với nguồn gốc lạ thường đáng được nhắc đến trong khuôn khổ tháng 3 dâng kính Thánh Cả GIUSE.
Cách đây gần 140 năm - vào năm 1872 - Đức Giám Mục giáo phận Santa Fe là Đức Cha Jean Baptiste Lamy (1814-1888), gốc Pháp, dự định xây cất một Nhà Nguyện dâng kính Đức Bà Loreto (Loretto Chapel) với mục đích làm nơi thờ phượng cho Cộng Đoàn gồm 4 Nữ Tu thành Loreto (Sisters of Loretto). Các Chị vừa thành lập Cộng Đoàn ở đây.
Công việc xây cất ủy thác cho kiến trúc sư P. Mouly, người Pháp. Ông khởi công ngày 25-7-1873 và hoàn thành 5 năm sau đó. Nhà Nguyện dài 22,5 mét, rộng 7,5 mét và cao 25,5 mét. Nhà Nguyện dâng kính Thánh Cả GIUSE.
Khi Nhà Nguyện hoàn thành thì người ta mới thấy có một thiếu sót trầm trọng. Nhà Nguyện không có cầu thang đi lên gác-đàn (dành cho Ca Đoàn). Nhiều nhà chuyên môn được mời đến để nghiên cứu xem phải giải quyết vấn đề như thế nào. Mọi người đều thấy không còn chỗ để xây cầu thang, ngoại trừ việc làm một đường hầm hoặc xây một cầu thang theo hình con ốc.
Sau khi nghe các ý kiến, Các Nữ Tu cảm thấy vô cùng bối rối và lo âu. Nhưng Các Chị đặt trọn lòng tin tưởng nơi sự trợ giúp đặc biệt của Thánh Cả GIUSE, Đấng mà Các Chị rất sùng kính. Các Chị quyết định làm Tuần Cửu Nhật dâng kính Thánh Cả GIUSE, van xin Người cầu bầu cùng THIÊN CHÚA Quan Phòng.
Vào ngày cuối Tuần Cửu Nhật, có Người Khách Lạ xuất hiện nơi cửa Tu Viện. Ông có mái tóc muối tiêu và mang theo con lừa trên lưng chở vật dụng. Người Khách xin gặp Mẹ Bề Trên lúc ấy là Nữ Tu Maddalena. Khi Mẹ Bề Trên ra tiếp thì Người Khách Lạ cho biết Ông sẵn sàng chấp nhận công tác xây chiếc cầu thang.
Kể sao cho xiết nỗi vui mừng của Mẹ Bề Trên và toàn thể Cộng Đoàn. Các Chị thấy rõ lời cầu xin đã được THIÊN CHÚA lắng nghe.
Người Thợ Mộc bắt tay ngay vào việc. Các Nữ Tu thỉnh thoảng ghé qua chiêm ngắm công việc của Ông.
Để làm chiếc cầu thang, Người Thợ Mộc chỉ dùng 3 dụng cụ: cái cưa, thước đo góc và cái búa. Rồi thay vì dùng đinh, Ông chỉ dùng các chốt bằng gỗ và ngâm các chốt này trong nước. Vỏn vẹn sau ba tháng, chiếc cầu thang hoàn thành.
Khi công việc xong xuôi, Mẹ Bề Trên Maddalena chuẩn bị tiền để trả công cho Người Thợ Mộc. Nhưng Ông biến mất không để lại dấu vết và tông tích.
Các Nữ Tu dò hỏi các tiệm thủ-công-nghệ và tiệm bán đồ gỗ trong thành phố thì không nơi nào đã bán bất cứ vật dụng gì cho Người Thợ Mộc. Vã lại, loại gỗ được dùng để xây cầu thang cũng không tìm thấy trong vùng.
Riêng về chiếc cầu thang thì thật là lối kiến trúc diệu kỳ, độc nhất và khác thường, không trông thấy ở bất cứ nơi đâu. Cầu thang bỗng trở thành đối tượng tò mò cho các cuộc viếng thăm hiếu kỳ. Ai ai cũng nức lời trầm trồ khen ngợi.
Cầu thang gỗ có tất cả 33 bậc và xoay quanh trên hai vòng xoắn đúng 360 độ. Cầu thang khởi đầu dưới hầm và lên đến tận gác-đàn dành cho Ca Đoàn. Chỉ có thế thôi. Cầu thang không hỗ-trợ đỡ-nâng bởi bất cứ cột trụ nào khác. Nghĩa là cầu thang tự đứng thẳng trên chính nó. Thêm vào đó, khi bước trên các bậc thang người ta có cảm giác êm-ái nhẹ-nhàng nhún-nhẩy như đi trên các bậc thang làm bằng chất nhựa mềm. Thật lạ lùng và thật khác thường!
Rất nhiều kiến trúc sư và các nhà xây cất đến tận nơi xem xét và chiêm ngắm chiếc cầu thang lạ lùng. Điều kỳ diệu hơn nữa là trải qua hơn 130 năm chiếc cầu thang được sử dụng lên xuống hàng ngày vậy mà nó vẫn đứng vững nguyên vẹn, không bị sụp đổ!
Loại gỗ dùng làm cầu thang cũng không thể xếp vào thứ gỗ nào. Nó cũng không được tìm thấy bất cứ nơi đâu trong toàn tiểu bang New Mexico của Hoa Kỳ và cũng không rõ đến từ vùng nào miền nào trên trái đất này.
Riêng về phía các Nữ Tu Loreto, Các Chị không dám quả quyết Người Thợ Mộc khác lạ kia chính là Thánh Cả GIUSE. Chỉ có điều chắc chắn là Các Chị xác tín rằng Chiếc Cầu Thang hoàn thành nhờ lời chuyển cầu của Thánh Cả GIUSE, Đấng mà Các Chị đặt trọn lòng tin tưởng phó thác và đã cùng nhau sốt sắng làm Tuần Cửu Nhật dâng kính Thánh Cả GIUSE.
Chiếc cầu thang kỳ lạ trên đây hàng năm thu hút khoảng hơn 250 ngàn du khách hiếu-kỳ đến viếng thăm.

... Kinh THÂN LẠY THÁNH CẢ GIUSE.
Con thân lạy Thánh Cả GIUSE, là bàu chủ và Cha kẻ đồng trinh. Bởi Thánh GIUSE giữ lòng trinh khiết, nên đáng gìn giữ Chúa KITÔ là chính sự vẹn sạch, và Đức Nữ Đồng TRinh MARIA. Nhân vì Đức Chúa GIÊSU và Đức Mẹ là hai của cầm châu báu Đức Chúa CHA, thì con nài xin gìn giữ xác con khỏi mọi bợn nhơ, trí khôn con thanh tịnh, lòng con vẹn sạch hầu con nên trung thành tinh khiết cùng Đức Chúa GIÊSU và Đức Mẹ cho đến muôn đời. Amen.
(“IL MESSAGGIO DELLA SANTA CASA - LORETO”, Anno 129, n.9 - Novembre 2009, trang 350-351)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Ảnh: Internet
Thứ Tư Tuần II Phục Sinh Năm C
Ngày 01/5 Thánh Giuse Thợ
PHÚC ÂM: Mt 13, 54-58
"Ông ta không phải là con bác phó mộc sao?"
Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà, giảng dạy dân chúng trong hội đường, họ bỡ ngỡ và nói rằng: "Bởi đâu ông này khôn ngoan và tài giỏi như thế? Ông không phải là con bác thợ mộc ư? Mẹ ông không phải là bà Maria? và Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa không phải là anh em của ông sao? Và tất cả chị em của ông không phải ở nơi chúng ta đó sao? Vậy bởi đâu ông được mọi điều ấy như thế?" Và họ lấy làm gai chướng về Người. Nhưng Chúa Giêsu nói với họ: "Không có tiên tri nào được vinh dự nơi quê hương và nơi nhà mình". Và Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ cứng lòng tin.
Đó là lời Chúa.

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2019

TÔI XIN CHẤP NHẬN

Tại một bệnh viện trong thành phố Hiroshima bên Nhật Bản, một người đàn bà bị phóng xạ nguyên tử từ 30 năm qua đang lên cơn hấp hối.
Bác sĩ chữa trị cho biết bà chỉ còn nhiều lắm là một hay vài giờ nữa là cùng. Theo thói quen tại Nhật Bản, người ta thông báo để người sắp chết cho biết ý muốn trong những giây phút cuối cùng.
Bác sĩ vào phòng bệnh nhân và nói nhỏ với bà: "Akiramé".
Người đàn bà ngước nhìn vị bác sĩ và dùng ngón tay trỏ viết vào trong lòng bàn trái của bà câu: "Akiramé", nghĩa là "Tôi xin chấp nhận".
Với tất cả bình thản, người đàn bà đã biến những giờ phút hãi hùng nhất trong cuộc sống thành một biến cố tự nhiên và thanh thản.
Cuộc sống của chúng ta dường như được cấu tạo bằng nhiều vị khác nhau: đắng cay, chua xót, ngọt bùi... Gia vị là một điều cần thiết cho thức ăn. Người không thích cay đắng thì sẽ xem trái ớt, hạt tiêu là kẻ thù của khẩu vị. Người thích cay đắng thì lại tìm ra mùi vị thơm ngon của nó.
Hoa nào cũng có mật đắng. Nhưng loài ong khéo léo để chỉ hút mật ngọt.
Thiên Chúa ban cho chúng ta một cuộc sống với muôn màu sắc và hương vị khác nhau. Chúng ta phải là loài ong đi tìm mật ngọt trong vườn hoa cuộc sống ấy. Nếu chỉ nhìn thấy mật đắng, chúng ta sẽ bỏ cuộc đầu hàng trong chán nản. Nếu biết biến báo, chúng ta có thể tìm được mật ngọt và biến những đắng cay chua xót thành mật ngọt và hương thơm.
Sau khi đã đánh bại Ðức Quốc Xã và giải phóng Âu Châu, Churchill thủ tướng nước Anh đãtuyên bố: "Không gì buồn thảm cho bằng một chiến thắng". Cảnh thu dọn chiến trường, cảnh kẻ khóc người cười, cảnh vợ mất chồng, cảnh cha mẹ mất con cái... Chiến thắng ngự trị trên tro tàn, đổ nát.
Dù vui với chiến thắng đến đâu, có ai mà không ngậm ngùi xót xa.
Trích sách Lẽ Sống
Ảnh: Internet
Thứ Ba Tuần II Phục Sinh Năm C
PHÚC ÂM: Ga 3, 7-15
"Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời".
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: "Thật, Tôi bảo cho ông biết: Ông đừng ngạc nhiên vì nghe Tôi nói rằng: Các ngươi phải tái sinh bởi trời. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy".
Nicôđêmô hỏi lại rằng: "Việc ấy xảy ra thế nào được?" Chúa Giêsu đáp: "Ông là bậc thầy trong dân Israel mà ông không biết điều ấy sao? Thật, tôi bảo thật cho ông biết: Điều chúng tôi biết thì chúng tôi nói; điều chúng tôi thấy thì chúng tôi minh chứng. Nhưng các ông lại không nhận lời chứng của chúng tôi. Nếu khi Tôi nói về những sự dưới đất mà các ông không tin, khi Tôi nói những sự trên trời, các ông tin thế nào được? Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời. Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời".

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2019

THÁNH CATARINA SIENA

(1347 - 1380)
Trong cuộc đời ngắn ngủi, Thánh Catarina đặt trọng tâm vào việc hoàn toàn phó thác cho Ðức Kitô. Ðiều đáng khâm phục về thánh nữ là ngài coi việc phó thác cho Chúa như một mục đích phải đạt được qua thời gian.
Thánh Catarina, tên thật là Catarina Benincasa, sinh ở Siena và là người con út trong một gia đình có đến 23 người con. Ngay từ khi bảy tuổi, cô đã dâng hiến tâm hồn cho Ðức Kitô. Nơi cô sinh trưởng rất gần San Domenico, trung tâm truyền giáo của Dòng Ða Minh, và khi lớn lên cô bày tỏ ý muốn đi tu, nhưng gia đình lại muốn cô kết hôn. Ðể nói lên ý chí quyết liệt của mình, cô đã cắt tóc và sau cùng, với sự đồng ý của cha mẹ, Catarina gia nhập tổ chức Mantellate, là hội phụ nữ có liên hệ đến Dòng Ða Minh, họ mặc áo dòng nhưng sống ở nhà, phục vụ người nghèo và người đau yếu. Trong vòng hai năm liên tiếp cô không bao giờ rời phòng, trừ khi đi xem lễ và xưng tội, và cũng không nói chuyện với một ai ngoại trừ cha giải tội. Trong thời gian này, Catarina luyện tập tâm linh qua lối sống khắc khổ.
Sau đó, cô tự phá vỡ đời sống cô độc và bắt đầu hăng say chia sẻ công việc trong nhà, săn sóc người bệnh và giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên cô vẫn dành thời giờ trong thinh lặng và chiêm niệm.
Dần dà, người ta nhận thấy dường như Catarina đọc được tâm hồn của họ và dân chúng thuộc đủ mọi thành phần - giàu và nghèo, tu sĩ và giáo dân, thợ thuyền và lính tráng - bắt đầu tuốn đến với cô để được khuyên bảo. Từ đó một tổ chức tông đồ giáo dân được thành hình. Các lá thư của cô, hầu hết là các lời khuyên bảo tinh thần và khuyến khích các người mến mộ, ngày càng được công chúng đón nhận.
Vì sự hòa đồng với người đời một cách không sợ sệt cũng như lời nói bộc trực và uy quyền của một người hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa, Catarina đã bị dị nghị và dèm pha. Nhưng mọi điều cáo buộc cô đã bị bác bỏ trong Tổng Công Hội Dòng Ða Minh năm 1374.
Cô có ảnh hưởng rất lớn vì sự thánh thiện hiển nhiên, cũng như vì ảnh hưởng sâu đậm đối với đức giáo hoàng. Cô làm việc không biết mệt trong cuộc thập tự chinh chống với người Thổ Nhĩ Kỳ và trong việc hòa giải thành phố Florence với đức giáo hoàng.
Cô thành công trong việc thuyết phục Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô XI trở về Rôma, nhưng không bao lâu đức giáo hoàng từ trần và Ðức Urbanô VI lên ngôi. Khi cuộc Ðại Ly Giáo bùng nổ, Ðức Urbanô VI mời Catarina đến Rôma, vì đức giáo hoàng cần sự hỗ trợ của cô. Năm 1378, cô đến Rôma và thường xuyên viết thư gửi các nhà lãnh đạo quốc gia và Giáo Hội để bảo vệ cho quyền giáo hoàng của Ðức Urbanô. Hàng ngày, cô đi bộ đến Ðền Thánh Phêrô và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.
Một vài tuần trước khi chết, cô đang cầu nguyện trước một bức khảm ở Ðền Thánh Phêrô, cô trông thấy con thuyền của Thánh Phêrô dường như rời khỏi bức khảm và đậu trên vai của cô. Con thuyền xô cô ngã quỵ và người ta phải khiêng cô về nhà. Catarina hầu như bất toại cho đến khi từ trần, ngày 29 tháng Tư 1380, lúc ấy mới ba mươi ba tuổi.
Cô được Ðức Giáo Hoàng Piô II phong thánh năm 1461, và được coi là một trong những vị thần nghiệm và văn sĩ linh đạo của Giáo Hội. Vào năm 1970, Ðức Phaolô VI tuyên xưng thánh nữ là Tiến Sĩ Hội Thánh. Thánh Catarina là người phụ nữ thứ hai (sau Thánh Têrêsa ở Avila) được vinh dự này.
 Trong khi các thư của Thánh Catarina thường được coi là cửa ngõ để biết đến con người của ngài, nhưng người ta thường nhắc đến tác phẩm "Ðối Thoại" mà ngài chỉ coi đó là "cuốn sách của tôi," gồm các lời giảng dạy của thánh nữ để lại cho các người mến mộ. Cha Raymond, vị linh hướng của thánh nữ cho biết tác phẩm này ghi lại những lời đối thoại với Thiên Chúa khi ngài ngất trí.
Trích từ NguoiTinHuu.com
Ảnh: Trần Tuấn
Thứ Hai Tuần II Phục Sinh Năm C
Ngày 29/4 Thánh Catarina Siêna
PHÚC ÂM: Ga 3, 1-8
"Nếu không tái sinh bởi trời, thì chẳng ai được thấy Nước Chúa".
Khi ấy, trong nhóm biệt phái, có người tên là Nicôđêmô, một đầu mục của người Do-thái. Ông đến thăm Chúa Giêsu ban đêm và thưa rằng: "Lạy Thầy, chúng tôi nhận biết Thầy là một vị tôn sư Thiên Chúa uỷ phái đến. Vì không ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người đó". Chúa Giêsu đáp: "Thật, Tôi bảo thật cho ông biết, nếu không tái sinh bởi trời, thì chẳng ai được thấy Nước Chúa". Nicôđêmô thưa Chúa rằng: "Một người đã già, làm sao có thể tái sinh? Không lẽ người ấy lại vào lòng mẹ mà sinh ra lần nữa sao?" Chúa Giêsu đáp: "Thật, Tôi bảo thật cho ông biết, nếu không tái sinh bởi nước và Thánh Thần, thì không ai được vào nước Thiên Chúa. Sự gì sinh bởi huyết nhục, thì là huyết nhục; và sự gì sinh bởi Thần Linh, thì là thần linh. Ông đừng ngạc nhiên vì nghe Tôi nói rằng: Các ngươi phải tái sinh bởi trời. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy".
Đó là lời Chúa.
Lạy Chúa, Thánh Cataria sống một đời cầu nguyện, chiêm niệm nhưng khẳng khái trong lời nói và hăng say trong việc làm. Xin Chúa và Thánh Nữ luôn nâng đỡ con trong hành trình đức tin. Amen.

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

ĐỨC TIN CỦA TÔMA

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này. Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẫn, nên chẳng tin” (Lc 24,11). Thánh Matthêu thuật lại : khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ : Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi. Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17). Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên.
Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay. Chỉ tin những gì thấy được. Chỉ chấp nhận những gì sờ được. Đòi kiểm nghiệm tất cả. Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả. Không chỉ tin vào lời nói suông. Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác. Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin. Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma? Cám ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.
Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã. Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì ‘thấy được, sờ được'. Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe. Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta. Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại. Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa. Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng. Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng 'lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi'. Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Tôma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình : "Lạy Thiên Chúa của con". Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Xyri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.
Thần học gia Hans Kung nói: "Người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi". Nhà thần học Paul Tillich nói: "Sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin. Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh". Còn Thomas Merton bảo: "Người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin". Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: "Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững". Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy. Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở. (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Ảnh: Internet
Chúa Nhật II Phục Sinh Năm C – Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót
PHÚC ÂM: Ga 20, 19-31
"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".
Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Điđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".
Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Đoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!"
Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.
Đó là lời Chúa.

"Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân" (Ga 2,17)